Ngày 26/07 hàng năm được UNESCO chọn làm Ngày Quốc tế Bảo tồn Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, kể từ năm 2015, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn và khuyến khích việc bảo vệ chúng. Tại Việt Nam, một trong những nước phải chịu nhiều tác động biến đổi khí hậu, nước biển không ngừng dâng cao, rừng ngập mặn là một tuyến phòng thủ tự nhiên không thể thiếu trước những tác động khắc nghiệt của tự nhiên.

Không chỉ đóng vai trò bảo vệ bờ biển, hệ sinh thái đặc biệt này còn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật, góp phần vào sinh kế của người dân ven biển. Tuy nhiên, áp lực từ đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản đã khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm đáng kể.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng, thách thức về bảo tồn rừng ngập mặn ở Việt Nam, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ.
RFI : Báo chí Việt Nam thường gọi rừng ngập mặn là bức tường xanh, lá chắn sinh thái … Tiến sĩ có thể giải thích cho thính giả - độc giả của đài RFI tiếng Việt được biết rừng ngập mặn là gì, có những nét đặc biệt về sinh thái như thế nào ?
TS. Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là những cánh rừng phát triển ở những khu đất đang bị ngập do nước mặn, đặc biệt là nước từ biển. Rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn, là một lá chắn để bảo vệ vùng bờ biển và tạo ra một hệ sinh thái rất độc đáo cho các khu vực xung quanh, đồng thời là một nguồn phát triển sinh kế cho người dân, cũng như ổn định bờ biển của Việt Nam.
Ở Việt Nam thì rừng ngập mặn tập trung nhiều nhất là ở vùng bán đảo Cà Mau, ở đồng bằng sông Cửu Long. Vào khoảng năm 1953-1954, diện tích rừng rất lớn, khoảng hơn 71.300 ha. Nhưng tới năm 1992 thì diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn khoảng 33.000 ha.
Một lý do là chiến tranh Việt Nam trước năm 1975, cùng với việc sử dụng chất diệt cỏ nên diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp. Rồi người ta sử dụng rừng ngập mặn để khai thác gỗ hoặc là chế biến than củi làm chất đốt. Rừng ngập mặn cũng bị người ta chuyển sang sản xuất nuôi trồng thủy sản, như là nuôi tôm hay nuôi cua. Khi sản xuất được mở rộng thì rừng ngập mặn bị thu hẹp lại.
Nhưng mà sau đó thì người ta nhận thấy rằng rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn trong hệ sinh thái và đồng thời bảo vệ vùng bờ biển nên có nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, đặc biệt là từ những năm 1995 trở đi, song song với chương trình gọi là phục hồi rừng trên toàn quốc và kèm theo đó là chương trình mà trồng rừng 5 triệu ha rừng nữa. Đây là một nỗ lực rất lớn để phục hồi lại rừng ngập mặn.
Đồng thời cũng có rất nhiều chương trình tài trợ cho việc bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục lại những hệ sinh thái ở vùng ngập rừng ngập mặn, đặc biệt là các vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long, một số vùng ở Cần Giờ của Sài Gòn, một số vùng miền Trung như là vùng đầm phá Tam Giang hoặc là một số vùng ven biển ở phía Bắc thì rừng gặp mặn bắt đầu khôi phục dần dần và bây giờ thì diện tích rừng thì khoảng trên dưới 50 triệu ha.
Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức, do biến đổi khí hậu chẳng hạn, hoặc là do sự phát triển của dân số và sản xuất, nên diện tích rừng ngập mặn vẫn không được nhiều như mong muốn. Và đặc biệt, do nước biển dâng và thiên tai, nên rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Cà Mau đang có khuynh hướng bị thu hẹp, bị xói lở rất mạnh ở mũi Cà Mau bên phía biển đông. Nhưng một phần phù sa lại đắp cho vùng biển phía tây, nên rừng ngập mặn đang có khuynh hướng phát triển về phía tây, trong khi phía đông thì bị thu hẹp lại.
RFI : Vai trò của rừng ngập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu là gì ?
TS. Lê Anh Tuấn : Thứ nhất, rừng ngập mặn có sinh khối rất lớn. Các cây rừng ngập mặn, ví dụ như là cây mắm, cây đước, cây bần, phát triển mạnh, tạo ra một sinh khối rất lớn và dày đặc. Các rừng này sẽ hấp thụ lượng carbon (CO2) và đồng thời nhả ra oxy cho khu vực.
Đồng thời rừng ngập mặn có vai trò che chắn sự tàn phá của sóng biển hay sự tàn phá của những trận bão nhiệt đới, để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân ở bên trong. Rừng ngập mặn cũng là nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, và những loài chim cá này tạo ra một cảnh quan, một sự đa dạng sinh học cho khu vực.
RFI : Với vai trò của rừng gập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu như vậy, có thể hiểu là Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rất cần rừng ngập mặn. Vậy ngoài tác dụng về chống biến đổi khí hậu thì rừng ngập mặn còn có vai trò gì đối với sinh kế của người dân Việt Nam ?
TS.Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, như các loại tôm, cua, sò, ốc khác nhau. Người dân có thể dựa vào rừng ngập mặn để nuôi tôm, rồi nuôi cua hay là nuôi sò, nuôi ốc, hoặc là người ta có thể tạo ra những sản phẩm phụ như là cây gỗ hay là tạo ra hoạt động du lịch, du lịch sinh thái ở những vùng như vậy. Đó là một cơ sở để tạo ra sinh kế của cộng đồng và thêm nguồn thu cho cho chính quyền địa phương ở đó.
RFI : Ở nhiều nước trên thế giới thì rừng ngập mặn bị tàn phá vì nhiều lý do. Tình hình tại Việt Nam, như tiến sĩ đã phân tích, diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm, về lịch sử thì có thể nói là do chiến tranh Việt Nam từ những năm trước 1975. Sau này thì có thể nói đến hai yếu tố, thứ nhất là biến đổi khí hậu, thứ hai là hoạt động của con người cũng đã góp phần là tàn phá, thu hẹp cái rừng ngập mặn. Vậy còn về chất lượng rừng ngập mặn hiện nay thì ra sao ?
TS. Lê Anh Tuấn : Tôi cho rằng vùng rừng ngập mặn mà được khôi phục và bảo tồn thì chất lượng sẽ tốt hơn rất là nhiều. Ví dụ như ngày xưa là rừng ngập mặn ở Cần Giờ ở khu vực Sài Gòn bị tàn phá rất nhiều. Nhưng bây giờ rừng này đã phục hồi và có rất nhiều loài chim muông và thú, hay cá tụ về. Vùng bản đảo Cà Mau người ta cũng ghi nhận như vậy.
Tuy nhiên, do sự giằng co giữa con người và thiên nhiên, biến đổi khí hậu, hoặc do sự quản lý lỏng lẻo, người ta có thể đi vào trong một khu rừng ngập mặn, chặt phá trộm hoặc là lén lút mở rộng diện tích nuôi tôm. Về mặt pháp luật, họ bị ngăn cấm rất nhiều, nhưng mà vấn đề là quản lý của chính quyền địa phương ở mỗi khu vực thì khác nhau, nơi làm tốt thì có thể rừng ngập mặn phát triển nhiều và đóng vai trò khôi phục lại hệ sinh thái và bảo vệ cái bờ biển khu vực đó.
Còn những nơi quản lý lỏng lẻo, để cho người dân vô chặt phá, hoặc ở những vùng chịu những tác động của sóng biển bị xói lở hay là do những yếu tố thiên tai khác thì rừng ngập mặn đang thu hẹp. Nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rằng sự thu hẹp hay là mở rộng rừng ngập mặn không đồng đều ở các vùng khác nhau của Việt Nam.
RFI : Thưa tiến sĩ Lê Anh Tuấn, ông là chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, theo ông đâu là những khó khăn, những thách thức trong thời gian tới đây để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm được sinh kế cho người dân ?
TS.Lê Anh Tuấn : Một trong những thách thức để bảo vệ rừng ngập mặn là chúng ta phải nhận diện lại những mối đe dọa đến diện tích rừng ngập mặn.
Thí dụ như là sạt lở bờ biển, sự suy giảm phù sa của sông Cửu Long khi ra biển, bởi vì rừng ngập mặn là một bãi bồi nhận phù sa đổ ra ngoài biển. Và những phù sa này hiện nay đang có khuynh hướng giảm đi, do sự hình thành của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông. Đồng thời tình trạng khai thác cát bừa bãi ở vùng thượng nguồn làm cho lượng phù sa đi đến vùng bờ biển cũng ít đi. Và khi phù sa ít đi thì không còn bồi đắp lại mũi Cà Mau nữa. Điều này vừa có yếu tố con người, vừa có yếu tố tự nhiên.
Thứ hai, vấn đề là quản lý và khôi phục lại những cánh rừng ngập mặn. Nếu chúng ta có rất nhiều biện pháp mà quản lý cách chặt chẽ thì chúng ta có thể giữ được những rừng ngập mặn đó để phát triển. Còn nếu chúng ta lơi lỏng trong quản lý, để cho một số người khai thác bất hợp pháp lấy củi hoặc mở rộng diện tích canh tác thì lúc đó rừng ngập mặn sẽ bị đe dọa. Tôi nghĩ rằng là đây là một biện pháp rất tổng hợp, tuy nhiên diện tích mà chúng ta cần phải bảo vệ và duy trì quá lớn so với sức của con người ở mỗi địa phương. Thế nên, cần phải có một sự phối hợp mạnh mẽ giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý rừng, với các nhà khoa học, đồng thời phải nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ và nhận diện sự bền vững của rừng ngập mặn.
Nếu chúng ta biết cách bảo vệ thì rừng ngập mặn sẽ tiếp tục phục vụ lại chính con người chúng ta, mà chúng ta cũng có thể dừng rừng ngập mặn để hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
RFI : Theo ông, mô hình phục hồi rừng ngập mặn nào của Việt Nam hiện nay đang được đánh giá là hiệu quả ?
TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ một mô hình tốt là phải có sự phối hợp giữa chính quyền và người dân trong cộng đồng. Cụ thể là ở một số nơi, chính quyền đã giao một số khu rừng ngập mặn cho người dân quản lý và bảo vệ. Người ta có thể sử dụng diện tích mặt nước để nuôi tôm, nuôi cua để khai thác và đồng thời người ta có thể phát triển được du lịch cộng đồng tại chỗ, để tăng thêm thu nhập khi mà người dân phải cùng với chính phủ bảo vệ rừng ngập mặn.
RFI : Việt Nam có được các tổ chức quốc tế, các hiệp hội bảo vệ môi trường - sinh thái hỗ trợ trong các chương trình phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn hay không ?
TS. Lê Anh Tuấn : Theo tôi biết là có rất nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, như là chương trình của chính phủ Đức, hay là chương trình để thành lập vườn quốc gia mũi Cà Mau, hoặc là một số tổ chức phi chính phủ khác tài trợ cho những chương trình trồng rừng ngập ngập mặn và khuyến khích giới trẻ Việt Nam tham gia bảo vệ rừng ngập mặn đó, cùng nhau có những chiến dịch trồng lại những rừng ngập mặn.
Cũng có một số chương trình của chính phủ Pháp để phục hồi lại một số rừng ngập mặn, nhưng mà các chương trình đó thì không kéo dài và nguồn kinh phí thì không có nhiều như là một số tổ chức khác của Đức chẳng hạn.
RFI : Giữa việc khôi phục diện tích, mở rộng diện tích rừng ngập mặn và việc cải thiện nâng cao chất lượng của rừng ngập mặn, thì theo ý kiến đánh giá của tiến sĩ, điều nào là quan trọng hơn đối với Việt Nam để có thể chống biến đổi khí hậu ?
TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta phải có một cái giải pháp tương đối tổng hợp. Chúng ta cũng đừng dựa vào một giải pháp duy nhất nào đó.
Thứ nhất là về chính sách, phải tiếp tục duy trì ngân sách để phát triển rừng ngập mặn. Thứ hai là phải có sự tham gia của các nhà khoa học, sử dụng những công công cụ hiện đại để chúng ta quản lý rừng ngập mặn tốt hơn. Ví dụ như dùng viễn thám hay là dùng máy bay không người lái để tuần tiễu, tìm cách phát hiện ra những nơi nào rừng ngập mặn đang bị tàn phá hay là xâm hại, hoặc sử dụng những biện pháp, kể cả những biện pháp đơn giản, như trồng rừng lại bằng sức người, theo từng nhóm nhỏ, trồng lại rừng ở những bãi bồi, những chỗ mà rừng ngập mặn bị mất đi hoặc là chúng ta có thể tìm ra những biện pháp hỗ trợ người dân không xâm phạm rừng ngập mặn, nhưng vẫn có thể có được những sinh kế ở trên cái đất rừng ngập mặn đó.
Ví dụ như là người ta có thể giành lại một khoảng 20-25 hay là 30% diện tích mặt nước ở trong rừng ngập mặn để người ta nuôi tôm, cua hoặc là các sản vật khác chẳng hạn, mà không làm ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Và trong khi nuôi trồng như vậy thì người ta cũng có biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn, phát hiện ra những người lạ xâm lấn vào trong khu rừng đó, đồng thời có thể cảnh báo cho chính quyền khi mà rừng ngập mặn gặp những mối đe dọa khác, ví dụ như sạt lở hay là ô nhiễm do hoạt động sản xuất khác. Ví dụ người sản xuất công nghiệp xả thải không qua xử lý thì có thể ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Như vậy, chính người được giao rừng sẽ là người cùng với chính quyền bảo vệ lại rừng ngập mặn.
Và tôi nghĩ rằng cũng nên có những chương trình bền bỉ để giúp cho cộng đồng hay là các bạn trẻ hiểu rõ vai trò của rừng ngập mặn, để cùng nhau bảo vệ. Chúng ta không nên nghĩ rừng chỉ là rừng mà rừng còn có nhiều tác dụng về nguồn nước, về khí hậu, về đất đai và hệ sinh thái, có rất nhiều lợi ích trong đó.
RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, đã tham gia chương trình hôm nay.
Nguồn: https://www.rfi.fr