Nuôi biển công nghệ cao được kỳ vọng vừa nâng cao giá trị kinh tế, vừa giảm tác động đến môi trường.
Mở rộng không gian, tăng ứng dụng công nghệ
Hiện nay, nuôi biển đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô cũng đặt ra yêu cầu về công nghệ, kiểm soát môi trường, dịch bệnh và khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên.
Theo TS Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), phần lớn hoạt động nuôi biển hiện vẫn tập trung ở các vùng nước ven bờ. Việc phát triển nuôi biển trước đây khi quy hoạch chưa tốt đã phát sinh nhiều vấn đề về môi trường.
Trong định hướng phát triển kinh tế biển xanh, nuôi biển cần gắn với công nghệ cao, kiểm soát được thức ăn đầu vào, lượng thức ăn dư thừa và có biện pháp thu gom, xử lý.
Nuôi biển công nghệ cao dựa trên nền tảng công nghệ để kiểm soát đầu vào, đầu ra, khối lượng và số lượng sản phẩm, qua đó đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Việc kiểm soát quá trình nuôi cũng tạo điều kiện thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Với quy mô lớn, nuôi biển xa bờ sẽ đòi hỏi ứng dụng công nghệ nhiều hơn. Các hệ thống sensor, camera giám sát, cho ăn tự động và phần mềm trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để kiểm soát việc cho ăn và theo dõi quá trình nuôi.
Hướng tới phát triển xanh
PGS.TS Trương Đình Hoài - Phó Trưởng khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam - cho rằng, ứng dụng công nghệ là một trong những vấn đề quan trọng đối với phát triển nuôi biển.
Do biển là môi trường nuôi hở, công nghệ lồng, lưới phải có khả năng chịu được các yếu tố liên quan đến biến đổi khí hậu, bão, lũ. Đồng thời, cần có công nghệ giám sát môi trường và quản lý dịch bệnh.
Cùng với công nghệ, nguồn nhân lực cũng là vấn đề được đặt ra. Người nuôi biển cần được đào tạo, hỗ trợ tiếp cận thông tin về quản lý môi trường, quản lý dịch bệnh và các công nghệ mới.
Một bài toán khác là kiểm soát chất thải. Theo PGS.TS Trương Đình Hoài, cần sử dụng thức ăn phù hợp, tăng hiệu quả tiêu hóa và hấp thu của vật nuôi nhằm giảm lượng chất thải xuống nền đáy.
Bên cạnh đó, có thể áp dụng mô hình nuôi kết hợp, nuôi ghép các đối tượng trong cùng khu vực để tận dụng chất thải của loài này làm nguồn thức ăn cho loài khác. Chẳng hạn, có thể nuôi tôm hùm kết hợp với nuôi hàu, hoặc nuôi cá với rong. Việc hình thành chuỗi thức ăn trong khu vực nuôi góp phần hạn chế lượng thức ăn lắng xuống đáy, qua đó giảm nguy cơ ô nhiễm nền đáy về lâu dài.
Theo TS Dư Văn Toán, các hội nuôi biển tại địa phương đang từng bước hình thành và tập hợp người nuôi cùng thực hiện theo các tiêu chuẩn chung. Một số khu vực đã có hoạt động kết nối để cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Phát triển nuôi biển xa bờ gắn với công nghệ cao, kiểm soát nguồn thải và nâng cao chất lượng sản phẩm đang mở ra hướng đi mới cho kinh tế biển. Nếu kiểm soát tốt quá trình nuôi và nguồn thải, đây có thể là một trong những ngành kinh tế góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh.
Nguồn: https://laodong.vn/moi-truong/nuoi-bien-cong-nghe-cao-huong-toi-tang-truong-xanh-1779782.ldo