Với một quốc gia có thế mạnh về nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản, ngành tôm Việt Nam có thể tiếp cận thêm các nguồn vốn quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh.
Mở dòng vốn xanh
Để chuyển đổi sang mô hình tuần hoàn, ngành tôm cần thêm nguồn lực cho công nghệ, hạ tầng, tổ chức sản xuất và quản trị chuỗi. Đây cũng là những lĩnh vực cần sự tham gia của các đối tác quốc tế.
Chia sẻ tại Diễn đàn Đối tác công tư (PPP) thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm tại ĐBSCL ngày 21/9, ông Vũ Đức Đam Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết ngành tôm giữ vai trò quan trọng đối với sản xuất, xuất khẩu và sinh kế của người dân, đặc biệt tại ĐBSCL. Năm 2025, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt khoảng 4,6 tỷ USD.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế tuần hoàn ngành tôm vẫn còn nhiều khoảng trống về thể chế, chính sách, hạ tầng, công nghệ, dữ liệu, thị trường tài chính, tổ chức sản xuất và năng lực thực hiện. Việc tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi sự tham gia của khu vực công, doanh nghiệp, người nuôi, tổ chức nghiên cứu và các đối tác phát triển. Trong đó, huy động nguồn lực quốc tế được đặt ra như một trong những hướng để bổ sung vốn và hỗ trợ quá trình chuyển đổi.
Ông Benedict Tan, Giám đốc Chương trình Hatch Blue tại Singapore, phụ trách các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp của tổ chức này tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho biết từ năm 2020 đến tháng 9/2026, khu vực đã huy động khoảng 5 tỷ USD thông qua các khoản vay và trái phiếu xanh dương. Quy mô này cho thấy tài chính xanh dương đang dần trở thành một kênh huy động nguồn lực đáng chú ý cho các hoạt động kinh tế gắn với đại dương và phát triển bền vững.
Tại Việt Nam, thị trường này mới ở giai đoạn đầu nhưng đã xuất hiện những giao dịch tiên phong. Năm 2024, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) đầu tư 25 triệu USD vào trái phiếu xanh dương do SeABank phát hành. Theo IFC, đây là trái phiếu xanh dương đầu tiên tại Việt Nam, hướng tới tài trợ các hoạt động bền vững liên quan đến đại dương và nước, trong đó có nuôi trồng và khai thác thủy sản.
Đặt bên cạnh quy mô khoảng 5 tỷ USD đã được huy động trong khu vực, con số 25 triệu USD không chỉ phản ánh điểm xuất phát của thị trường Việt Nam mà còn cho thấy dư địa đáng kể để mở rộng dòng vốn xanh dương. Với một quốc gia có thế mạnh về nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản, đây cũng là không gian để ngành tôm tiếp cận thêm các nguồn vốn quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh.
Giảm rủi ro để hút vốn
Theo ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát triển kinh tế tuần hoàn ngành tôm cần đồng thời giải quyết các vấn đề về vốn, công nghệ, quản trị, phát triển mô hình, liên kết chuỗi giá trị và mở rộng thị trường. Các bên cần cùng chia sẻ trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích trong quá trình chuyển đổi.
Cách tiếp cận này cũng được Save the Children Việt Nam (Tổ chức Cứu trợ Trẻ em) đề xuất thông qua mô hình “chuỗi đầu tư xanh”. Theo đó, tổ chức này kết nối cộng đồng, HTX và chính quyền với doanh nghiệp, người mua, ngân hàng, tổ chức tài chính, nhà đầu tư, quỹ khí hậu và đối tác kỹ thuật. Mục tiêu là hình thành các doanh nghiệp tôm dựa vào hệ sinh thái có khả năng tiếp cận và hấp thụ tài chính xanh.
Theo Save the Children, điểm nghẽn đối với tài chính xanh không chỉ nằm ở thiếu vốn. Các hộ sản xuất còn gặp rủi ro khí hậu và hệ sinh thái, quy mô nhỏ, hạn chế về kỹ thuật, quản trị, truy xuất, chứng nhận, liên kết thị trường và thiếu tài sản bảo đảm. Vì vậy, chỉ bổ sung tín dụng vào một hệ thống sinh kế có mức rủi ro cao chưa đủ để tạo thành một mô hình tài chính xanh.
Từ thực tế triển khai, hơn 202 hộ đã được hỗ trợ thực hành tôm sinh thái, thích ứng khí hậu; 14,5 ha rừng ngập mặn được 40 hộ đăng ký trồng mới cho mùa vụ 2026. Đến cuối tháng 6/2026, có 8.010 cây mắm được ghi nhận sinh trưởng, với tỷ lệ sống báo cáo 80%. Các hoạt động này được kết nối với ươm tạo kinh doanh, vay vi mô, ngân hàng, đầu tư và cơ chế chi trả theo kết quả.
Ở góc độ thị trường, bà Phùng Thị Kim Thu, chuyên gia VASEP, cho rằng chuỗi tôm tuần hoàn còn phải giải quyết các điểm nghẽn về quy mô sản xuất, nguồn cung, chi phí, truy xuất, kháng sinh, trách nhiệm xã hội, carbon và tiêu chuẩn hóa phụ phẩm.
Theo bà Thu, quá trình xây dựng chuỗi tuần hoàn cần bắt đầu từ vùng nuôi, bởi đây là nơi quyết định phần lớn chi phí và rủi ro của chuỗi. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức tốt hơn, dữ liệu sản xuất được chuẩn hóa và các yêu cầu về môi trường, truy xuất được kiểm soát, khả năng kết nối với doanh nghiệp chế biến, thị trường và nguồn vốn cũng sẽ thuận lợi hơn.