Hội thảo Quốc gia 'Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững' diễn ra chiều 5/6 tại phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026.
Chương trình được tổ chức tại Vinpearl Cửa Hội, kéo dài trong nửa ngày với 2 phiên chính gồm định hướng chiến lược và thảo luận chính sách.
Theo Ban tổ chức, sau hơn 8 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhiều ngành kinh tế biển và các địa phương ven biển đã đạt kết quả tích cực.
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế biển bền vững đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Hội thảo được kỳ vọng sẽ là diễn đàn trao đổi thực chất giữa cơ quan quản lý, giới chuyên gia và doanh nghiệp nhằm đóng góp cơ sở khoa học, thực tiễn cho quá trình sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cùng các cơ chế liên quan.
Trong phiên đầu tiên, các đại biểu sẽ tập trung thảo luận những định hướng lớn về phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn mới. Nội dung nổi bật gồm định hướng của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế biển, các điểm mới trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, cùng góc nhìn từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Các tham luận nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp, liên ngành và liên vùng; coi biển là không gian phát triển thống nhất giữa đất liền, biển và hải đảo, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phiên thảo luận sau đó sẽ tập trung vào các vấn đề thực tiễn như cơ chế giao mặt nước biển, phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, cảng biển, dịch vụ hàng hải, công nghiệp sinh học biển và dữ liệu biển. Nhiều ý kiến cũng sẽ xoay quanh chính sách phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu khi soạn thảo luật
Dự thảo Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo sửa đổi đang được xây dựng theo hướng vừa siết chặt bảo tồn, bảo vệ môi trường biển, vừa mở rộng dư địa cho doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế biển bằng các cơ chế linh hoạt hơn về thủ tục và chi phí sử dụng biển.
Thông tin được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp tổng kết tại Hội thảo góp ý cho dự thảo luật, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh và xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại hơn.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo luật là thay đổi cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên biển. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu nằm ở quản lý hành chính và cấp phép, thì dự thảo mới hướng đến quản trị dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hệ thống dữ liệu dùng chung.
Các lĩnh vực như khí tượng thủy văn, môi trường biển, nuôi trồng thủy sản hay hoạt động khai thác trên biển sẽ được tích hợp dữ liệu để phục vụ quản lý đồng bộ. Hiện nay, tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan quản lý đã có thể theo dõi số lượng tàu cá hoạt động trên biển, định vị các khu nuôi biển công nghệ cao và giám sát những vùng sản xuất có giá trị lớn.
“Dữ liệu sẽ trở thành nền tảng cho quản trị tài nguyên biển trong giai đoạn tới”, ông chia sẻ và dẫn ví dụ trong lĩnh vực đất đai, riêng Hà Nội và TP.HCM có thể thu khoảng 300 tỷ đồng từ phí khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu đất đai. Đây cũng là định hướng được nghiên cứu để đưa vào dự thảo luật nhằm hình thành hệ sinh thái dữ liệu biển đồng bộ hơn.
Dự thảo luật cũng đặt mục tiêu tháo gỡ các điểm nghẽn trong phát triển kinh tế biển. Trong đó, cơ chế cho thuê biển được đề xuất theo hướng chi phí hợp lý hơn, thủ tục đơn giản hơn để tăng khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nuôi biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo ngoài khơi và các ngành kinh tế biển mới. Cùng với đó, quy hoạch biển được yêu cầu xây dựng theo hướng thống nhất, tránh chồng chéo giữa các ngành và địa phương. Theo định hướng được nêu tại Hội thảo, sẽ có một cơ quan quản lý chung về biển, trong khi các bộ, ngành khác đóng vai trò tham mưu và hỗ trợ chuyên môn.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến trình dự thảo luật lên Quốc hội vào tháng 10/2026. Tuy nhiên, thời gian hoàn thiện không còn nhiều, trong khi đây là đạo luật có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực từ bảo tồn, môi trường, dữ liệu đến phát triển kinh tế biển. Vì vậy, Bộ mong muốn tiếp tục nhận được thêm ý kiến góp ý từ địa phương, chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế để hoàn thiện dự thảo theo hướng khả thi và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế biển của Việt Nam.
Xây dựng khung pháp lý đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản trị thông minh và khoa học
Theo ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc Hội, Dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sẽ sớm được Quốc hội cho ý kiến và thông qua, do vậy khối lượng công việc rất lớn. Quá trình xây dựng luật hiện có nhiều điều kiện thuận lợi khi được hỗ trợ bởi các cơ sở chính trị, pháp lý, khoa học và thực tiễn ngày càng đầy đủ.
Đặc biệt, việc sửa đổi Luật diễn ra trong bối cảnh Trung ương đang tổng kết Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam và dự kiến ban hành nghị quyết mới. Đây sẽ là cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật.

Đánh giá cao nỗ lực của cơ quan chủ trì soạn thảo, ông Tạ Đình Thi cho rằng quá trình xây dựng dự án luật đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, bài bản trong nhiều tháng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, chuyên gia và cơ quan của Quốc hội.
Về nội dung, vấn đề trọng tâm là thể chế hóa hơn các quan điểm phát triển kinh tế biển xanh, bảo đảm phát triển trong giới hạn và lấy hệ sinh thái làm nền tảng. Theo đó, dự thảo luật cần thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái, nhằm giải quyết hiệu quả các xung đột, chồng chéo lợi ích trong khai thác, sử dụng không gian biển và tài nguyên biển.
“Bên cạnh đó, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và nội luật hóa đầy đủ các cam kết, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia. Do tính chất đặc thù của biển gắn với các vấn đề xuyên biên giới, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế, việc xây dựng chính sách cần có cách tiếp cận toàn diện hơn. Cụ thể, dự thảo luật cần cập nhật các vấn đề môi trường mới như kiểm soát rác thải nhựa đại dương, thúc đẩy trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và hoàn thiện các cơ chế, chế tài nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia bảo vệ môi trường biển”, ông cho biết.
Một trong những yêu cầu khác là hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành trong quản lý và phát triển kinh tế biển, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các lĩnh vực như hàng hải, du lịch, dầu khí và các ngành kinh tế biển khác. Vì vậy, việc phân cấp cho địa phương phải gắn với năng lực thực thi và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Quá trình sửa đổi luật cần rà soát kỹ các quy định liên quan trong các luật chuyên ngành để tránh xung đột pháp lý, bảo đảm tính khả thi khi triển khai trên thực tế. Theo đại diện Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc Hội, đây là bộ luật có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến hầu hết các hoạt động kinh tế trên biển và ven biển. Vì vậy, cơ quan soạn thảo cần tiếp tục đẩy mạnh tham vấn chuyên gia, nhà khoa học và các bên liên quan nhằm xây dựng khung pháp lý đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản trị thông minh và khoa học.
Đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại để kiến tạo phát triển kinh tế biển
Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, đánh giá cao cơ quan soạn thảo, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã nghiên cứu rất kỹ, đúng chủ trương của Đảng để từ đó có những đề xuất, kiến nghị sửa đổi Luật, giúp quản lý tốt hơn tài nguyên, môi trường biển đảo; tạo cơ chế quản lý sử dụng tài nguyên biển đảo bền vững.
Từ góc độ của Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, Trung tướng Trần Đức Thuận cho rằng việc hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế biển trong giai đoạn hiện nay cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại.
Thực tiễn thế giới cho thấy, quốc gia nào làm chủ được không gian biển, khai thác hiệu quả tiềm năng biển và duy trì được môi trường hòa bình, ổn định trên biển thì quốc gia đó có điều kiện phát triển bền vững và nâng cao vị thế quốc tế. Trong quá trình xây dựng, sửa đổi các luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển kinh tế biển, cần bảo đảm các yêu cầu: xây dựng thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất không gian biển quốc gia. Quản lý không gian biển cần dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, liên ngành, liên vùng; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Các quy hoạch phát triển kinh tế biển, cảng biển, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, khai thác tài nguyên biển phải được tích hợp đồng bộ trong quy hoạch không gian biển quốc gia nhằm tránh xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế pháp lý để phát triển các ngành kinh tế biển mới. Thực tiễn đang xuất hiện nhiều lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế tuần hoàn biển, kinh tế carbon thấp, nuôi biển công nghiệp, khai thác dữ liệu biển, dịch vụ logistics biển hiện đại. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá tăng trưởng nhưng hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu hoặc chưa theo kịp thực tiễn. Vì vậy cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, ổn định cho nhà đầu tư.
Thứ ba, nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và an ninh sinh thái biển. Bảo vệ môi trường biển không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà còn là vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng nổi lên. Cần hoàn thiện cơ chế giám sát, cảnh báo sớm ô nhiễm môi trường biển; tăng cường quản lý rác thải nhựa đại dương; bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh trong các ngành kinh tế biển.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế và phát huy vai trò đối ngoại biển. Biển là không gian kết nối toàn cầu. Do đó, phát triển kinh tế biển phải gắn với việc thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, thúc đẩy hợp tác khu vực và quốc tế về bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao.
Hoàn thiện công cụ quy hoạch không gian biển
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần tiếp cận theo hướng quản trị biển hiện đại, gắn phát triển kinh tế biển xanh với bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch không gian biển.
Theo ông Hồi, Việt Nam đã đặt nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh từ Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia và các kế hoạch hành động liên quan trong nhiều năm qua. Trong đó, hệ sinh thái biển và các hệ sinh thái tự nhiên ven biển chính là nền tảng để phát triển kinh tế biển bền vững.
Ông cũng nhấn mạnh Việt Nam đã có cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học biển. Trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam theo Nghị quyết 36, mục tiêu đến năm 2030 là diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển đạt khoảng 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo mô hình khu bảo tồn biển truyền thống thì rất khó đạt mục tiêu này.
Ông cho rằng trên thực tế cần nhìn rộng hơn, bao gồm cả các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn giống loài thủy sinh và các hình thức bảo tồn khác đang tồn tại trong thực tiễn quản lý. Theo chuyên gia này, quốc tế hiện cũng đã xuất hiện khái niệm OECM - tức các khu vực được quản lý bằng những hình thức khác nhau nhưng vẫn tạo ra hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học. Đây có thể là hướng tiếp cận phù hợp để Việt Nam nghiên cứu bổ sung vào dự thảo luật và các quy hoạch biển trong thời gian tới.
Ông Hồi cho rằng việc bảo tồn biển không nên chỉ chạy theo mục tiêu diện tích, mà quan trọng hơn là khả năng phục hồi hệ sinh thái và tạo hiệu ứng lan tỏa sinh học ra các vùng biển xung quanh. “Khu bảo tồn biển nếu được quản lý tốt sẽ tạo hiệu ứng phát tán nguồn lợi ra bên ngoài, góp phần phục hồi hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản ở các khu vực lân cận”, ông nói.
Liên quan đến phát triển nuôi biển, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi lưu ý cần phân biệt rõ giữa nuôi biển ven bờ quy mô nhỏ với nuôi biển công nghiệp ngoài khơi. Theo ông, nuôi biển xa bờ là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ, vốn đầu tư và năng lực quản lý rất cao, nên không thể chỉ dừng ở việc giao biển cho người dân rồi để tự phát triển. Ông dẫn thực tế Khánh Hòa đã triển khai thí điểm nuôi biển công nghiệp từ nhiều năm trước nhưng chi phí đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và cần hệ thống hỗ trợ đồng bộ.
Do vậy, cần xây dựng đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn công nghệ, quản lý môi trường, mật độ nuôi, thức ăn, quan trắc và kiểm soát tác động môi trường biển. Ông cũng cho rằng dự thảo luật cần tiếp tục hoàn thiện công cụ quy hoạch không gian biển để phân bổ hợp lý các hoạt động kinh tế trên biển, hạn chế xung đột giữa nuôi biển, du lịch, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải và bảo tồn sinh thái.
Đưa nội dung phục hồi tự nhiên vào các quy định, chính sách
Từ góc nhìn của tổ chức quốc tế, ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam cho biết, trong hơn 30 năm đồng hành cùng Việt Nam, WWF đã phối hợp với nhiều bên trong quản lý và vận hành các khu bảo tồn biển, khu Ramsar.
Theo ông Thịnh, cần nhìn nhận rõ giới hạn của không gian biển tự nhiên. Nếu khai thác quá mức, hệ sinh thái sẽ bị quá tải và suy thoái. Vì vậy, việc phát triển kinh tế biển phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.
Ông Thịnh cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa nội dung phục hồi tự nhiên vào các quy định, chính sách. Đây sẽ là cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp có thể tiếp cận và huy động nguồn lực tài chính cho các hoạt động bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái.
Liên quan đến cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã tham gia Hội nghị COP15 về Đa dạng sinh học diễn ra tại Montreal, Canada (tháng 12/2022) và ủng hộ mục tiêu toàn cầu về bảo tồn. Việt Nam đang nỗ lực triển khai mục tiêu bảo vệ ít nhất 30% diện tích tự nhiên vào năm 2030.
Để thực hiện mục tiêu này, cần xác định rõ các khu vực sinh thái quan trọng như rạn san hô, đồng thời thúc đẩy cơ chế hợp tác đa bên giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc “quy tụ” các nguồn lực sẽ giúp hài hòa giữa khai thác, sử dụng và bảo tồn, hướng tới phát triển bền vững kinh tế biển.
EVN nêu 4 kiến nghị nhằm khai thác hiệu quả năng lượng biển
Phát biểu tại Toạ đàm, ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cho biết: Tập đoàn hiện đang tham gia trực tiếp và gián tiếp vào 6 lĩnh vực của kinh tế biển, gồm: du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và khoáng sản biển; nuôi trồng và khai thác thủy sản; công nghiệp ven biển và năng lượng tái tạo.
Theo ông, EVN xác định cấp điện cho biển, đảo là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng và luôn tập trung nguồn lực đầu tư triển khai. Đến nay, hầu hết các huyện đảo trên cả nước đã được cung cấp điện. Từ thực tiễn hoạt động, Tập đoàn đề xuất Chính phủ ưu tiên nguồn lực đầu tư cho hạ tầng năng lượng biển, bao gồm điện gió ngoài khơi, các dạng năng lượng biển, cùng hệ thống truyền tải điện ven biển và hạ tầng cấp điện cho các huyện đảo.
Đồng thời, tiếp tục huy động nguồn lực từ Nhà nước và khu vực tư nhân để triển khai các chương trình cấp điện cho các đảo tiền tiêu, khu vực biên giới biển và những vùng đặc biệt khó khăn, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
“Các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt là phát triển lưới điện thông minh, công nghệ truyền tải công suất lớn và các công nghệ năng lượng mới cần được tăng cường.
Đây là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp”, ông cho biết. Đối với quy hoạch, cả không gian trên mặt biển và dưới đáy biển đều liên quan trực tiếp đến các công trình năng lượng như điện gió ngoài khơi, năng lượng sóng và hệ thống cáp truyền tải điện kết nối từ các dự án ngoài khơi vào đất liền.
Vì vậy, EVN kiến nghị quy hoạch cần được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp và kết nối giữa các ngành kinh tế biển, bảo đảm hài hòa lợi ích và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Bên cạnh quy hoạch tổng thể quốc gia, cần có các quy hoạch chi tiết theo vùng, khu vực để phân cấp quản lý và tổ chức thực hiện, nhằm triển khai đồng bộ giữa ngành điện và các ngành kinh tế biển khác.
Cần cơ chế điều phối liên ngành để giảm xung đột không gian biển
Ông Hoàng Thành Vĩnh, cán bộ của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam cho biết, thách thức lớn về phát triển kinh tế biển hiện nằm ở khâu thực thi tại địa phương. Theo ông Vĩnh, UNDP đã phối hợp với 12 địa phương thí điểm phân vùng biển cụ thể dựa trên quy hoạch tổng thể.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, các địa phương cần hướng dẫn chi tiết hơn về tổ chức phân vùng biển và nâng cao năng lực quản lý. Đại diện UNDP cũng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng cơ chế điều phối để xử lý các xung đột trong khai thác không gian biển giữa các ngành như thủy sản, bảo tồn hay du lịch.
Ông Vĩnh dẫn kinh nghiệm của Na Uy, với mô hình “nền tảng điều phối”, gồm ban chỉ đạo cấp bộ, cơ chế điều phối giữa các cơ quan chuyên môn và nhóm chuyên gia liên ngành hoạt động thường xuyên để xử lý chồng chéo, mâu thuẫn. Theo ông Vĩnh, ngay cả khi đã phân vùng chức năng rõ ràng, xung đột vẫn có thể xảy ra do tác động liên vùng giữa các hệ sinh thái biển.

Quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển còn chưa đầy đủ, chưa tạo được cơ sở rõ ràng để phân bổ, điều phối, xử lý mâu thuẫn, chồng lấn trong sử dụng không gian biển giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các địa phương.
Trong bối cảnh biển ngày càng trở thành không gian phát triển tổng hợp, đa ngành, đa mục tiêu và đa chủ thể, đây là khoảng trống cần sớm được khắc phục. Thứ hai, chế độ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi sử dụng khu vực biển còn chưa hoàn thiện. Pháp luật hiện hành chưa hình thành đầy đủ chế định về quyền sử dụng khu vực biển; chưa tạo được cơ chế vừa quản lý chặt chẽ, vừa bảo đảm tính ổn định, minh bạch để thu hút đầu tư dài hạn và có trách nhiệm trên biển.
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam xin tiếp thu và hoàn thiện trong quá trình xây dựng hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo hướng đột phá: quản trị không gian biển theo hướng hiện đại ứng dụng công nghệ số, dữ liệu khoa học, làm sao quản lý bằng các công cụ, phương thức phù hợp với đặc thù.
Chúng ta đang tiếp cận, chỉnh sửa, hoàn thiện hơn công cụ quy hoạch. Chúng ta có không gian biển rộng nhưng nguồn lực còn hạn chế, chưa hiểu hết được những rộng lớn của không gian biển. Sắp tới phải có hướng giải quyết vấn đề này. Ngoài quy hoạch không gian biển quốc gia, tùy từng điều kiện, nhu cầu sẽ phân vùng chi tiết cho từng vùng không gian biển, phân cấp cho địa phương trong quy hoạch không gian biển để giải bài toán này.
Đối với vấn đề quản trị không gian biển và các hoạt động trên biển, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng. Thiết lập cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển. Cùng một khu vực biển có thể phát sinh nhu cầu sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải, nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn, quốc phòng, an ninh, công trình ngoài khơi, cáp ngầm, đường ống biển.
Ngoài ra, chúng tôi nghiên cứu, đề xuất để có cơ chế chính, sách ưu đãi cho những hoạt động đặc thù trên biển nhưng tập trung vào các ngành lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, sử dụng và phát huy thế mạnh như nuôi biển xa bờ…
Cũng theo ông Nguyễn Thanh Tùng, pháp luật hiện hành đã có quy định về giao khu vực biển, nhưng chưa hình thành đầy đủ chế định pháp lý về quyền sử dụng khu vực biển; chưa có cơ chế hoàn chỉnh về cho thuê, đăng ký, đấu giá, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính. Dự kiến bổ sung các hình thức xác lập quyền sử dụng khu vực biển, gồm giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và đăng ký sử dụng khu vực biển. Việc phân biệt các hình thức này giúp Nhà nước có công cụ quản lý linh hoạt hơn, phù hợp với tính chất, mục đích, quy mô, thời hạn, mức độ tác động và yêu cầu quản lý đối với từng loại hoạt động sử dụng biển.
Cần có chính sách miễn, giảm tiền thuê mặt biển cho người nuôi biển
Ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho biết cộng đồng nuôi biển đánh giá cao định hướng sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đặc biệt là cách tiếp cận mới về quy hoạch không gian biển. Tuy nhiên, đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cũng cho rằng vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tiếp tục hoàn thiện để người dân an tâm sản xuất trên biển.
Theo ông, hiện nay nhiều hộ nuôi biển ven bờ đã được địa phương giao mặt nước, nhưng chưa có cơ chế xác lập quyền sử dụng rõ ràng. Ông Lam đánh giá cao việc dự thảo luật nghiên cứu bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính. Theo ông, nếu người dân được xác lập quyền sử dụng rõ ràng, đồng thời có cơ chế bảo hiểm phù hợp, sẽ tạo nền tảng quan trọng để bà con yên tâm đầu tư dài hạn.
Đối với nuôi biển xa bờ, ông Lam cho rằng hiện vẫn thiếu các chính sách cụ thể về quy hoạch, phân vùng sử dụng và công cụ quản lý. Theo ông, hoạt động nuôi biển xa bờ liên quan trực tiếp đến quản lý không gian biển, theo dõi hoạt động trên biển và quy tắc ứng xử giữa các ngành sử dụng biển, nên cần có cơ chế rõ ràng hơn trong luật.
Ông Lam cũng nhấn mạnh vai trò của ngư dân nuôi biển như “cột mốc sống” trên biển. Theo ông, khi phát triển nuôi biển xa bờ, người dân không chỉ đối mặt rủi ro kinh tế mà còn cần được bảo đảm về an ninh, an toàn trên biển. Một vấn đề khác được đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đề cập là chi phí thuê mặt biển và khả năng tiếp cận vốn đầu tư.
Theo đó, hiện mức thuê mặt nước ở một số địa phương dao động từ 4 đến 7,5 triệu đồng, trong khi nuôi biển vốn là lĩnh vực có mức đầu tư rất lớn và rủi ro cao. Ông Lam cho biết chi phí đầu tư nuôi biển công nghiệp ngoài khơi hiện rất lớn. Dẫn ví dụ từ một số mô hình triển khai tại Vân Phong (Khánh Hòa), ông cho rằng quy mô đầu tư có thể lên tới hàng triệu USD, vượt xa khả năng tài chính của đa số hộ nuôi biển.
Từ thực tế đó, ông Lam đề xuất cần có chính sách miễn, giảm tiền thuê mặt biển cho người dân nuôi biển tương tự chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trước đây, đồng thời xây dựng cơ chế tín dụng và hỗ trợ đầu tư phù hợp để huy động nguồn lực xã hội cho kinh tế biển.
Cần cơ chế đặc thù để thúc đẩy phát triển kinh tế biển
Trả lời câu hỏi về cơ chế ưu đãi đặc thù để thúc đẩy phát triển kinh tế biển, từ góc nhìn của địa phương, ông Cao Văn Cường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cho biết, bên cạnh Nghị quyết 36/NQ-TW cần thiết phải mở ra những không gian phát triển mới nhằm khai thác bền vững kinh tế biển.
Theo ông Cường, tỉnh Thanh Hóa xác định kinh tế biển là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chiến lược phát triển. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ Nghị quyết 36, tỉnh đã và đang cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.
Theo đó, Thanh Hóa tập trung phát triển 5 trụ cột chính: Cảng biển và logistics (chú trọng phát triển cảng nước sâu); công nghiệp, công nghệ ven biển (với hạt nhân là Khu kinh tế Nghi Sơn - đóng góp lớn cho ngân sách); du lịch biển (với các điểm đến như Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa); thủy sản (theo hướng giảm dần khai thác, tăng mạnh nuôi trồng); và phát huy vị trí địa lý, tăng cường liên kết với các địa phương trong khu vực.
Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cũng thẳng thắn nhìn nhận một số khó khăn, vướng mắc. Trong đó, việc thu hút khu vực tư nhân vào phát triển kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; liên kết giữa các địa phương ven biển còn hạn chế, chưa tạo được sức mạnh liên vùng, liên kết 21 tỉnh có biển chưa thực sự hiệu quả.
Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho kinh tế biển còn khiêm tốn; đời sống và vai trò của ngư dân trong hoạt động vươn khơi, bám biển gắn với bảo vệ chủ quyền cần được quan tâm hơn. Từ thực tiễn đó, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa kiến nghị cần có định hướng rõ ràng về quy hoạch không gian biển; đồng thời ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù, đặc biệt là chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển, vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Khó quản trị biển theo tư duy đơn ngành
Những "nút thắt" về phân vùng, quy hoạch không gian biển và cách tiếp cận nguồn lực đang trở thành thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tăng trưởng mới. Đó là vấn đề được Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản đặt và cho rằng cần một cách tiếp cận mang tính đột phá hơn để tháo gỡ.
Trả lời vấn đề này, TS Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, mấu chốt của lần sửa luật này là phải chuyển mạnh từ “quản lý biển” sang “quản trị biển”. Trước đây, hoạt động quản lý biển chủ yếu theo cách tiếp cận ngành nào quản lý phần việc của ngành đó. Điều này khiến các lĩnh vực đều tối ưu hóa lợi ích riêng, dẫn tới chồng chéo, mâu thuẫn trong khai thác không gian biển, đồng thời phát sinh nhiều vấn đề môi trường.
“Quản lý theo ngành khiến thiếu một cái nhìn tổng thể”, ông phân tích và cho rằng, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 đã khởi tạo cách tiếp cận quản lý tích hợp, dùng các công cụ điều phối để hài hòa hoạt động trên biển, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ hệ sinh thái và lợi ích cộng đồng. Nhiều kết quả đã xuất hiện, trong đó có việc cải thiện không gian ven biển tại nhiều địa phương, chẳng hạn như biển Cửa Lò.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và thúc đẩy kinh tế biển trở thành động lực mới, nhiều quy định bộc lộ hạn chế. Nếu sửa luật mà chỉ dừng ở tăng cường quản lý mà không tạo được động lực phát triển kinh tế biển thì “coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ”. Do đó, tư duy mới cần đặt trọng tâm vào quản trị, tức không chỉ kiểm tra, giám sát mà còn phải điều phối, chia sẻ và đồng hành cùng doanh nghiệp, cộng đồng trong quá trình phát triển.
“Nhà nước không chỉ giữ kỷ cương mà còn phải nâng đỡ sự phát triển”, TS Sơn nhấn mạnh. Cách tiếp cận này sẽ kéo theo hàng loạt yêu cầu mới như tăng cường điều tra cơ bản biển, xây dựng hệ thống dữ liệu số theo thời gian thực, nâng cao năng lực giám sát và hỗ trợ hoạch định chính sách không gian biển hiệu quả hơn.
Ngoài ra, thay vì chia cắt quản lý theo ngành như hiện nay, việc quy hoạch cần hướng tới các vùng phát triển kinh tế tổng hợp hoặc theo chuỗi sản phẩm, phù hợp với tính liên kết tự nhiên của không gian biển. “Biển là một thể thống nhất. Tác động trên biển lan rất nhanh, nên không thể quản lý theo ranh giới của từng ngành”, ông nói. Ông cũng cho rằng quá trình quy hoạch và ra quyết định cần lấy được tiếng nói thực chất của doanh nghiệp, người dân và cộng đồng, thay vì chỉ dựa trên ý chí quản lý đơn thuần.
Hình thành tư duy quản lý, quản trị biển hiện đại
Liên quan đến vấn đề sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay là xử lý hiệu quả các xung đột giữa quản lý và phát triển không gian biển.
Thời gian qua, công tác chuẩn bị và nhận thức về kinh tế biển bền vững đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước hình thành tư duy quản lý, quản trị biển hiện đại, có tính hệ thống và định hướng rõ những nội dung cần tiếp tục điều chỉnh.
Theo ông, biển là không gian ba chiều, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành nhằm giảm hài hoà lợi ích giữa các hoạt động kinh tế trên cùng một vùng biển. Bên cạnh đó, công cụ quản lý cần dựa trên hệ sinh thái biển. Chẳng hạn, thay vì chỉ quản lý rùa biển, cần quản lý nơi cư trú, môi trường sống của chúng; hoặc quản lý hành vi khai thác và các yếu tố tác động đến hệ sinh thái.
Một vấn đề khác được PGS.TS Chu Hồi đề cập là việc quy hoạch không gian biển. Theo Luật Quy hoạch năm 2017, việc quy hoạch không gian biển chủ yếu được thực hiện ở cấp quốc gia, quy mô lớn, dẫn đến tính ứng dụng ở cấp địa phương còn hạn chế. Vì vậy, ông đề xuất Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sửa đổi cần làm rõ các công cụ quản lý dành cho địa phương, trong đó có thể nghiên cứu mô hình phân vùng chức năng không gian biển cấp tỉnh, dựa trên nhu cầu phát triển thực tiễn.
“Dù Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015 đã đưa ra ba phương pháp quy hoạch cơ bản, song vẫn còn chồng chéo và xung đột giữa các công cụ. Do đó cần xem xét và nghiên cứu theo hướng áp dụng phương pháp quy hoạch không gian biển hiện đại, bắt đầu từ vùng bờ và mở rộng ra toàn bộ không gian biển”, ông cho biết.
Từ 15h15, Hội thảo bước sang phần tọa đàm, do ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam điều phối, với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế biển. Các khách mời gồm: Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội; ông Cao Văn Cường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá; TS Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thuỷ sản Việt Nam và ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam.
4 "nút thắt", 5 giải pháp để phát triển kinh tế biển Quảng Ninh
Ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, địa phương có tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế biển kết hợp công nghiệp xanh, thương mại dịch vụ và cảng biển để trở thành động lực lõi phát triển kinht tế của địa phương.
Mặc dù có dải bờ biển dài hơn 250 km, ngư trường rộng lớn trên 6.100 km² và hệ thống hơn 2.770 hòn đảo tự nhiên, tuy nhiên, để chuyển hóa toàn bộ tiềm năng tự nhiên vô giá này thành giá trị kinh tế thực chất và bền vững, Quảng Ninh đang đối diện với 4 "nút thắt" lớn về mặt cấu trúc và thể chế.
Thứ nhất, độ mở nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng cảng biển. Dù sở hữu hệ thống cảng nước sâu (Cái Lân, Cẩm Phả) và 3 khu kinh tế cửa khẩu năng động, độ mở kinh tế lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu của Quảng Ninh năm 2025 mới đạt khoảng 75%, mức thấp nhất trong vùng Đồng bằng sông Hồng.
Nguyên nhân cốt lõi là do dải ven biển thiếu vắng các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn hướng về xuất khẩu; các doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động theo chuỗi lắp ráp khép kín, trong khi dòng vốn tư nhân nội địa giai đoạn trước chủ yếu tập trung vào bất động sản và dịch vụ thông thường.
Thứ hai, hạ tầng hậu cần bãi triều và ven biển còn thiếu độ chuyên sâu. Hệ thống cảng cá và hậu cần nuôi trồng thủy sản xa bờ còn hạn chế, toàn tỉnh vẫn chưa hình thành được hệ thống chợ đầu mối thủy sản hay trung tâm logistics nông - thủy sản quy mô vùng nhằm chuẩn hóa chuỗi cung ứng thương mại chính ngạch, làm hạn chế giá trị gia tăng của tài nguyên sinh vật biển địa phương.
Thứ ba, mâu thuẫn gay gắt về không gian chức năng giữa các ngành. Trục ven biển Hạ Long - Cẩm Phả là nơi đan xen phức tạp giữa nền công nghiệp truyền thống (khai thác than sản lượng gần 43 triệu tấn/năm, công nghiệp nhiệt điện than phục vụ an ninh năng lượng quốc gia) với yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt vùng lõi di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà và phát triển du lịch sinh thái chất lượng cao.
Thứ tư, tác động cực đoan của hải văn và biến đổi khí hậu. Chế độ bán nhật triều không đều biên độ cao (3-4m) kết hợp địa hình cửa sông dốc khiến các khu vực thấp trũng như Quảng Yên, Đầm Hà, Hải Hà và Móng Cái thường xuyên đối mặt nguy cơ ngập úng khi triều cường, xâm nhập mặn sâu vào nội địa làm suy giảm chất lượng nước ngầm nông và gây xói lở bờ biển nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp sinh kế bãi triều của người dân.
Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, việc tinh gọn bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp giúp cắt giảm hoàn toàn tầng nấc trung gian. Điều phối không gian biển được tập trung đồng bộ tại cấp tỉnh, đồng thời nâng cao triệt để tính linh hoạt, chịu trách nhiệm thực thi trực tiếp tại cấp xã, phường và 2 đặc khu ven biển.
Quảng Ninh hiện đang tập trung triển khai 5 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm để gỡ nút thắt, phát triển kinh tế biển xứng với tiềm năng hiện có, gồm: Quản lý đồng bộ không gian biển theo 3 hành lang chức năng kinh tế (gồm: Hành lang công nghiệp - đô thị - logistics phía Tây (Quảng Yên - Tây Hạ Long - Uông Bí - Đông Triều); Trục kinh tế du lịch biển đảo di sản trung tâm (Hạ Long - Cẩm Phả - Vân Đồn - Cô Tô); Hành lang cửa khẩu - công nghiệp xuất khẩu phía Đông (Móng Cái - Quảng Hà - Đầm Hà - Tiên Yên). Hoàn thiện hạ tầng kết nối đa phương thức và hậu cần biển chuyên sâu; Số hóa công tác quản trị biển và thúc đẩy kinh tế số cửa khẩu; Tháo gỡ nút thắt chính sách, thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới và Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững dải bãi triều tự nhiên.
Đề xuất phân cấp cho địa phương, hạn chế chồng chéo trong phát triển kinh tế biển
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.
Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo luật là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển. Theo cơ quan soạn thảo, biển không chỉ là nơi chứa tài nguyên mà còn là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, gắn với kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.
Dự thảo luật cũng bổ sung cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo hướng phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia. Cơ chế xử lý chồng chéo trong sử dụng biển được xem là nội dung nền tảng, bởi cùng một khu vực hiện có thể phát sinh nhiều nhu cầu như điện gió ngoài khơi, giao thông hàng hải, nuôi biển, du lịch hay bảo tồn sinh thái.
Một thay đổi lớn khác là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính.
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, điều này nhằm hạn chế cơ chế “xin - cho”, tăng tính minh bạch và tạo môi trường pháp lý ổn định cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, dự thảo luật đề xuất cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung hay các mô hình kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp. Dự thảo cũng định hướng cải cách thủ tục hành chính theo hướng liên thông, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp đầu tư trên biển.
Về môi trường, dự thảo luật chuyển mạnh từ tư duy xử lý ô nhiễm sau sự cố sang phòng ngừa từ sớm, từ nguồn. Các nội dung mới tập trung vào kiểm soát rác thải biển, rác thải nhựa đại dương, ô nhiễm xuyên biên giới và phục hồi hệ sinh thái biển. Đồng thời, dự thảo tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và quan trắc thông minh để phục vụ quản trị biển hiện đại.
Cũng theo ông Toản, những sửa đổi lần này thể hiện sự chuyển đổi lớn trong tư duy quản trị biển của Việt Nam, từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, từ kiểm soát đơn thuần sang vừa quản lý chặt chẽ vừa kiến tạo phát triển kinh tế biển bền vững. Dự thảo luật dự kiến được trình Quốc hội vào tháng 10/2026.
9 giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong tình hình mới
TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh mới.
Trước hết, cần đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển. Điều này bao gồm tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội; đồng thời chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển tổng hợp, dựa trên hệ sinh thái. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh, rõ trách nhiệm và hiệu quả thực thi.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính đột phá. Trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo, khơi thông nguồn lực, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đồng thời, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm “tốt trong thực tiễn”.
Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển. Cần đa dạng hóa nguồn vốn, thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công - tư (PPP) và hình thành các tập đoàn kinh tế biển lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt các ngành mũi nhọn.
Thứ tư, đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Ưu tiên công nghệ biển hiện đại, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và thúc đẩy ứng dụng AI, viễn thám trong quản lý. Đồng thời, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về kinh tế biển.
Thứ năm, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, giá trị gia tăng cao. Tập trung vào các lĩnh vực chủ lực như du lịch biển chất lượng cao, hàng hải - logistics, dầu khí, thủy sản công nghệ cao và năng lượng tái tạo ngoài khơi. Đồng thời, thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới như hydrogen, dược liệu biển, kinh tế sinh học biển.
Thứ sáu, phát triển đồng bộ hạ tầng và không gian kinh tế biển. Đẩy mạnh hệ thống cảng biển, logistics, giao thông kết nối liên vùng; hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, khu công nghiệp sinh thái, đô thị biển thông minh và các khu kinh tế ven biển hiện đại.
Thứ bảy, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và nâng cao đời sống người dân biển. Kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời bảo đảm sinh kế bền vững, nâng cao chất lượng sống cho cư dân ven biển và hải đảo.
Thứ tám, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, giữ môi trường hòa bình; đồng thời chủ động hội nhập, thu hút nguồn lực, công nghệ và tham gia quản trị biển toàn cầu.
Cuối cùng, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá thực thi. Xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả phát triển kinh tế biển; siết chặt giám sát các lĩnh vực nhạy cảm, bảo đảm kỷ cương, minh bạch và hiệu quả trong triển khai.
Kinh tế biển chưa phát huy tương xứng tiềm năng
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển. Tuy nhiên, kết quả hiện nay vẫn chưa tương xứng với lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu, với hơn 3.260 km bờ biển, diện tích 1 triệu km2 cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo, song đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế còn hạn chế.
“Còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước”, Thứ trưởng nói. Ông dẫn hàng loạt ví dụ về sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng các quy định liên quan giữa nhiều bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương.
Theo ông, những bất cập này khiến quá trình triển khai các dự án kinh tế biển gặp khó khăn, phát sinh thủ tục và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Lãnh đạo Bộ thừa nhận, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản biển, khai thác tài nguyên biển sâu và phát triển du lịch biển.
Theo ông Điệp, trong quá trình khảo sát và hợp tác quốc tế, Việt Nam ghi nhận nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, đặc biệt ở lĩnh vực khai thác khoáng sản biển sâu. Qua làm việc với một số đối tác, không ít khu vực được đánh giá có tiềm năng lớn về khoáng sản chiến lược, với giá trị kinh tế cao. Ông cũng cho rằng tiềm năng du lịch biển, đảo của Việt Nam hiện chưa được khai thác hiệu quả.
“Chúng ta có nhiều nơi rất đẹp, không thua kém các điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng quốc tế, nhưng cơ chế phát triển và thu hút đầu tư vẫn còn hạn chế”, ông chia sẻ. Tại hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến giới thiệu một số nội dung lớn trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời lấy ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp để hoàn thiện chính sách.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ mong muốn quá trình sửa luật không chỉ dừng ở hoàn thiện văn bản pháp lý mà phải giải quyết được các vướng mắc thực tiễn, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới.