Chương trình nuôi biển bằng lồng HDPE giúp ngư dân Hòn Nghệ nâng độ bền lồng bè, thích ứng biến đổi khí hậu, giảm rủi ro sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế.
Hướng ngư dân đến lồng nuôi bền vững
Giữa vùng biển của xã đảo Hòn Nghệ, tỉnh An Giang, hàng trăm lồng bè nuôi cá đang tạo sinh kế ổn định cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, trước tác động ngày càng cực đoan của thời tiết và yêu cầu phát triển nghề nuôi biển bền vững, việc chuyển đổi từ lồng bè truyền thống sang vật liệu HDPE đang được địa phương quan tâm.
Thực hiện chương trình khuyến nông địa phương năm 2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang phối hợp với Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Hòn Nghệ vừa tổ chức hội nghị triển khai chương trình “Phát triển nuôi biển bằng lồng HDPE thích ứng vùng biển đảo gắn với liên kết tiêu thụ”.
Đây là bước đi nhằm đưa tiến bộ kỹ thuật vào nghề nuôi biển, đồng thời từng bước hình thành mô hình sản xuất có khả năng thích ứng tốt hơn với điều kiện tự nhiên vùng biển đảo.
Theo kế hoạch, mô hình ứng dụng công nghệ lồng HDPE nuôi cá mú Trân Châu bằng thức ăn công nghiệp kết hợp trồng rong sụn được triển khai tại Kiên Hải, Phú Quốc, Sơn Hải và Hòn Nghệ với thời gian nuôi dự kiến 12 tháng.
Riêng mô hình triển khai tại Hòn Nghệ hướng đến những hộ có kinh nghiệm nuôi cá lồng bè, có đủ điều kiện cơ sở vật chất, vốn đối ứng và mong muốn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Địa điểm thực hiện phải phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển nuôi biển, không ảnh hưởng tới các hệ sinh thái biển được bảo tồn.
Mỗi điểm mô hình có quy mô 192m³, bố trí 4 lồng HDPE kích thước 4 x 4 x 3m. Cá mú Trân Châu được nuôi bằng thức ăn công nghiệp, kết hợp trồng rong sụn nhằm hướng tới mô hình nuôi biển phù hợp điều kiện sinh thái và nâng cao hiệu quả sử dụng không gian mặt nước.
Chương trình có chính sách hỗ trợ một phần chi phí đầu tư. Theo đó, ngân sách hỗ trợ tối đa 30% chi phí đầu tư lồng HDPE và một phần thức ăn cho cá. Người dân đối ứng tối thiểu 70% chi phí lồng nuôi, đồng thời tự đầu tư con giống, vật tư và các hạng mục còn lại theo quy trình kỹ thuật.
Đối với một điểm mô hình, phần hỗ trợ lồng nuôi dự kiến khoảng 57,6 triệu đồng và thức ăn hơn 21,8 triệu đồng. Phần vốn đối ứng của người dân cho lồng nuôi tối thiểu 134,4 triệu đồng.
Ông Quách Thu Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Hòn Nghệ cho biết, địa phương đang phối hợp triển khai chương trình theo đúng tiêu chí, đối tượng và định hướng phát triển nuôi biển của tỉnh. Việc lựa chọn hộ được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, có kinh nghiệm nuôi cá lồng bè, đủ khả năng đối ứng vốn và cam kết tuân thủ quy trình kỹ thuật.
Theo ông Hoài, chương trình cũng ưu tiên những hộ có khả năng vận động, hướng dẫn các hộ khác cùng áp dụng, đồng thời tạo điều kiện để tổ chức tham quan, hội nghị, tuyên truyền nhằm nhân rộng những mô hình có hiệu quả.
Việc chuyển đổi sang lồng HDPE được kỳ vọng giúp người nuôi nâng cao khả năng chống chịu trước điều kiện sóng gió, tăng độ bền công trình nuôi và hạn chế chi phí sửa chữa, thay thế trong quá trình sản xuất.
Chuyển đổi lồng bè gắn với đầu ra sản phẩm
Hòn Nghệ hiện có khoảng 90 hộ nuôi biển với hơn 827 lồng bè hoạt động thường xuyên. Các đối tượng nuôi chủ yếu gồm cá bớp, cá mú Trân Châu, cá mú sao, cá mú chuột, cá chim vây vàng… Một số hộ còn thử nghiệm nuôi tôm hùm tre nhằm đa dạng hóa sinh kế.
Gần 10 năm gắn bó với nghề, bà Trần Thị Tú Lượng, ngụ ấp Bãi Chướng, xã Hòn Nghệ hiện duy trì 6 lồng bè nuôi cá bớp và cá mú Trân Châu. Theo bà Lượng, nghề nuôi cá biển giúp gia đình có nguồn thu ổn định, mỗi năm sau khi trừ chi phí có thể đạt lợi nhuận khoảng 150 - 200 triệu đồng.
Tuy nhiên, nghề nuôi cá lồng bè vẫn đối mặt không ít thách thức, nhất là chi phí đầu tư lớn, biến động thời tiết, dịch bệnh và thị trường tiêu thụ. Vì vậy, cùng với chuyển đổi vật liệu lồng nuôi, việc xây dựng liên kết đầu ra được xem là yếu tố quyết định để nghề nuôi biển phát triển lâu dài.
Ông Nguyễn Đức Minh, Chủ tịch Hội Nông dân xã Hòn Nghệ đánh giá cá bớp và cá mú Trân Châu vẫn là những đối tượng nuôi chủ lực do thị trường tương đối ổn định. Tuy nhiên cần tăng cường kết nối giữa người nuôi, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để hình thành chuỗi liên kết từ con giống, kỹ thuật đến tiêu thụ.
Theo ông Minh, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, hỗ trợ về con giống, kỹ thuật và đầu ra, qua đó giúp ngư dân giảm phụ thuộc vào thị trường tự do.
Cùng với đó, cán bộ khuyến nông tiếp tục hướng dẫn người dân chủ động phòng bệnh, vệ sinh lồng bè, bổ sung dinh dưỡng nhằm nâng sức đề kháng cho cá. Đây là yêu cầu quan trọng khi thời tiết trên biển diễn biến ngày càng khó lường.
Từ chương trình khuyến nông năm 2026, Hòn Nghệ kỳ vọng hình thành những điểm nuôi biển ứng dụng công nghệ mới, làm cơ sở để người dân tham quan, học tập và từng bước nhân rộng.
Ông Ngô Ngọc Chuẩn, Chủ tịch UBND xã Hòn Nghệ cho biết địa phương định hướng phát triển kinh tế biển theo hướng đa giá trị, không chỉ dựa vào khai thác và nuôi trồng thủy sản mà còn kết hợp với du lịch sinh thái biển đảo, trải nghiệm làng bè.
Khi lồng bè được hiện đại hóa, sản phẩm thủy sản có liên kết tiêu thụ và gắn với trải nghiệm du lịch, giá trị nghề nuôi biển có thể được nâng lên. Đây cũng là hướng để Hòn Nghệ khai thác tốt lợi thế vùng biển Tây, tạo thêm sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.
Việc chuyển đổi sang lồng bè HDPE vì vậy không chỉ là thay đổi vật liệu nuôi mà còn là bước chuyển trong tư duy sản xuất, hướng nghề nuôi biển Hòn Nghệ đến an toàn, thích ứng và bền vững hơn.